Chúa trở thành người

Trên thế giới có nhiều tôn giáo khác nhau. Niềm tin của mỗi tôn giáo cũng khác nhau. Ai cũng tin rằng con đường mình đang đi là đúng nhất và không chịu tìm hiểu niềm tin của người khác. Niềm tin tôn giáo là vấn đề nhạy cảm nhất. Nhiều người sẵn sàng hy sinh mạng sống vì niềm tin tôn giáo của mình. Có người nhân danh niềm tin tôn giáo của mình để bách hại và triệt tiêu niềm tin của người khác.

Trên thế giới tự do ngày nay ai cũng phải thừa nhận mỗi người có quyền tin điều mình lựa chọn là đúng. Đây là đặc ân mà không ai được quyền từ chối. Nhưng điều quan trọng nhất trong vấn đề tôn giáo là niềm tin đó có thực sự là chân lý hay không. Tin một điều mà cuối cùng điều đó là sai thì thật là đáng tiếc. Theo một tôn giáo mà cuối cùng tôn giáo đó bất lực không Cứu vớt được ai thì cuối cùng không phương cứu vãn.

Có một thực sự mà ai cũng phải thừa nhận là tin một điều không khiến cho điều ấy là thật cũng như không tin một điều không khiến điều ấy trở thành sai. Một điều thật vì nó là thật cũng như một điều giả vì nó là giả. Sự thật vẫn là sự thật cho dù chúng ta tin hay không tin.

Trong lãnh vực thuộc linh cũng vậy. Có những quan niệm đúng về Đức Chúa Trời cũng có những quan niệm sai về Ngài. Có những quan niệm đúng, cũng có những quan niệm sai về nguồn gốc và số phận của loài người. Có những quan niệm đúng về sự Cứu rỗi cũng có những quan niệm không hề dẫn đến sự Cứu rỗi.

Có những tôn giáo lớn đã vượt qua lãnh thổ quốc gia để lan tràn nhiều nơi trên thế giới. Tính theo tầm vóc to lớn, ta thấy có 5 tôn giáo chính. Đó là Cơ Đốc Giáo, Hồi Giáo, Ấn Độ Giáo, Phật Giáo và Do Thái Giáo. Các tôn giáo chính đều có những giáo chủ sáng lập và truyền bá. Khi theo một giáo chủ hay một tôn giáo nào chúng ta cần biết ít nhất ba điều: Thứ nhất con người và sự nghiệp của vị giáo chủ ấy. Thứ hai chúng ta cần biết vị giáo chủ ấy tự xưng là ai. Thứ ba bằng chứng nào chứng minh lời tự xưng ấy là đúng.

Là người tin theo Chúa Cứu Thế Giê-xu và đặt trọn niềm tin nơi Ngài, tôi thành thật tin tưởng và biết rõ Ngài chính là Đấng đáng cho nhân loại tôn thờ bởi vì Chúa Giê-xu chính là Đức Chúa Trời thành người như lời Ngài tuyên bố. Các tôn giáo là cố gắng của con người tìm kiếm Đức Chúa Trời trong khi Cơ Đốc Giáo là cố gắng của Đức Chúa Trời tìm kiếm con người. Niềm tin nầy được xác nhận bởi hàng tỉ người trên thế giới dựa trên những bằng chứng không thể chối cải được. Sự ra đời, tồn tại và phát triển khắp năm châu của Cơ-đốc Giáo là một bằng chứng, nhưng bằng chứng hùng hồn vững chắc nhất là những bằng chứng tìm được trong Thánh Kinh.

Chúa Giê-xu Là Ai?

Chúa Giê-xu là một người độc đáo nhất đã từng sống trên thế gian. Có một tác giả vô danh đã viết như sau: "Ngài được sinh ra trong một làng nhỏ, con của một cô gái quê. Ngài lớn lên tại một làng khác và làm nghề thợ mộc cho đến năm 30 tuổi. Rồi trong ba năm Ngài đi giảng đạo. Ngài chưa hề viết một quyển sách. Ngài chưa hề giữ một chức vụ công quyền. Ngài không lập gia đình cũng không sở hữu một ngôi nhà. Ngài không học trường đại học. Ngài không hề đi khỏi quê hương hơn 200 dặm. Ngài chỉ mới 33 tuổi khi người ta quay lại chống đối Ngài. Khi bị án tử hình, những kẻ hành hình Ngài đã bắt thăm chia nhau áo xống của Ngài. Khi chết Ngài được chôn trong ngôi thạch mộ mượn của một người bạn. Thế nhưng cho dù tất cả những quân đi bộ binh đã từng diễn hành, tất cả những hạm đi hải quân đã từng lướt sóng, tất cả các nhà lập pháp đã từng ngôì bàn thảo, tất cả các vua chúa đã từng cai trị, cộng lại với nhau, vẫn không tạo được một ảnh hưởng trên đời sống nhân loại cho bằng ảnh hưởng sâu rộng của một cuộc đời duy nhất của Ngài."

Theo Thánh Kinh, Chúa Giê-xu là người duy nhất sống trên thế gian có hai bản tính Trời và Người: Người vì Ngài sinh ra bởi một bà mẹ tên là Ma-ri; Trời vì Ngài là Con Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời vốn ở trên trời đã nhập thế để trở thành Con Người sống giữa thế gian.

Các thiên sứ loan tin sự giáng sinh của Chúa Giê-xu tuyên bố Ngài được xưng là Christ, là Chúa. Tiên tri ê-sai loan báo trước danh Ngài là Em-ma-nu-ên, nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta. Thánh Kinh chép: "Nhưng đúng kỳ hạn, Thượng Đế sai Con Ngài xuống trần gian, do một người nữ sinh ra trong một xã hội bị luật pháp trói buộc, để giải phóng những người làm nô lệ của luật pháp, và cho họ quyền làm con Đức Chúa Trời." Thánh Kinh cũng khẳng định: "Vì Đức Chúa Trời yêu thương nhân loại đến nỗi hy sinh Con Một của Ngài, để tất cả những người tin nhận Con Đức Chúa Trời đều không bị hư vong nhưng được sự sống vĩnh cửu." Sứ đồ Giăng, một môn đồ thân tín nhất của Chúa Giê-xu đã xác nhận: "Chúa Cứu Thế đã mang lấy hình hài thể xác con người, sinh hoạt giữa chúng ta, đầy tràn ân phúc và chân lý. Chúng tôi đã ngắm nhìn vinh quang rực rỡ của Chúa Cứu Thế, đúng là vinh quang Con Một của Đức Chúa Trời. "Chúa Giê-xu quả thật là Đấng Thần Nhân nghĩa là Ngài vừa là Người vừa là Đức Chúa Trời.

Chúa Giê-xu Tự Xưng Là Ai?

Lời tự xưng của Chúa Giê-xu thật là lạ lùng. Ngài không tuyên bố: Ta sẽ chỉ cho các ngươi con đường; Ngài phán: Ta là đường đi, chân lý và sự sống. Chẳng bởi ta thì không ai đến được cùng Cha ( tức Thượng Đế). Ngài mạnh dạn tuyên bố trước mặt mọi người: "Ta với Cha là một...Ai đã thấy ta là thấy Cha." Ngài xác quyết: "Ai tin ta thì được sự sống đời đời. Ai không chịu tin ta thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Thượng Đế vẫn ở trên người ấy." Những lời tuyên bố của Chúa Giê-xu đáng cho chúng ta suy xét. Chúa Giê-xu có ý nói ai biết Ngài là biết Đức Chúa Trời, ai thấy Ngài là thấy Đức Chúa Trời, ai nghe Ngài là nghe lời Đức Chúa Trời, ai tôn kính Ngài là tôn kính Đức Chúa Trời. Ngược lại ai chối bỏ Ngài là chối bỏ Đức Chúa Trời, ai không tôn kính Ngài là không tôn kính Đức Chúa Trời.

Các giáo chủ trên thế giới đều nhận mình là người và khuyên người khác hãy nghe theo lời dạy của mình để hy vọng tìm được sự giải thoát. Chúa Giê-xu thì kêu gọi người ta tin cậy Ngài là đối tượng đức tin của họ. Ngài phán: Ai tin ta thì được sự sống đời đời và không đến sự phán xét, nhưng vượt khỏi sự chết mà đến sự sống.

Một học giả nỗi danh là C.S. Lewis đã nhận xét như sau: "Một số người nói rằng họ sẵn sàng chấp nhận Chúa Giê-xu như là một giáo sư đạo đức vĩ đại, nhưng họ không chịu chấp nhận lời tuyên bố Ngài là Đức Chúa Trời thành người. Đó là điều chúng ta không nên nói đến. Một người chỉ là một người thường mà nói những lời như Chúa Giê-xu đã nói không phải là nhà đạo đức vĩ đại. Người đó hoặc là một người điên, hoặc người đó là quỉ sứ của điạ ngục. Bạn phải lựa chọn. Hoặc người nầy là Con Đức Chúa Trời hoặc là người điên. Bạn có thể tống giam người như một người điên, bạn có thể nhổ vào người như một quỉ sứ hoặc bạn quì gối xuống chân Ngài và tôn xưng Ngài là Chúa, là Đức Chúa Trời thành Người. Nhưng xin đừng nói rằng Ngài chỉ là nhà đạo đức. Ngài không có ý định đó."

Những Bằng Chứng Nào Xác Nhận Lời Tuyên Xưng Của Ngài Là Thật?

Có những lý do rõ ràng để chúng ta tin Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời thành người như lời Ngài tuyên bố. Một số những lý do đó là sự giáng sinh của Ngài thật kỳ diệu: Ngài được sinh bởi nữ đồng trinh. Cuộc đời Ngài thật kỳ diệu: Ngài thực hữu từ trước khi giáng thế, Ngài sống một đời vô ti, Ngài biết trước mọi sự, Ngài hóa hình sáng chói, Ngài làm những phép lạ, Ngài dạy dỗ cách tuyệt vời, Ngài làm ứng nghiệm mọi lời tiên tri nói về Ngài. Sự chết của Ngài thật kỳ diệu: Ngài chết thay cho nhân loại và sống lại cách hiển vinh. Ngài thăng thiên về trời và hiện nay ngồi bên hữu Đức Chúa Trời.

Về sự kiện Chúa Giê-xu giáng sinh bởi nữ đồng trinh, Kinh Thánh đã cẩn thận ghi rõ để người đọc không thể lầm lẫn. Từ 700 năm trước khi Chúa giáng sinh, tiên tri Ê-sai đã loan báo: "Nầy một trinh nữ sẽ chịu thai và sinh hạ một Con trai, đặt tên là Em-ma-nu-ên nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta." Sứ đồ Ma-thi-ơ ký thuật sự giáng sinh của Chúa Giê-xu như sau: "Cô Ma-ri đã đính hôn với Giô-sép, nhưng khi còn là trinh nữ, nàng chịu thai do Đức Thánh Linh. Giô-sép, vị hôn phu của Ma-ri là người ngay thẳng, quyết định kín đáo từ hôn, vì không nỡ để nàng bị sỉ nhục công khai. Đang suy tính việc ấy, Giô-sép bỗng thấy một thiên sứ đến báo mộng: "Giô-sép, con cháu Đa-vít! Đừng ngại cưới Ma-ri làm vợ! Vì cô ấy chịu thai do Thánh Linh. Ma-ri sẽ sinh con trai, hãy đặt tên là Giê-xu vì Ngài sẽ Cứu dân Ngài khỏi xiềng xích tội lỗi." Giô-sép tỉnh dậy, liền theo lời thiên sứ dặn, cưới vợ về nhà, nhưng không ăn ở với nhau cho đến khi Ma-ri sinh con, đặt tên là Giê-xu." Sứ đồ Ma-thi-ơ cũng nhắc đến sự kiện lạ lùng trên trời khi có ngôi sao dẫn đường cho các nhà bác học từ Đông phương tìm đến tôn thờ Cứu Chúa. "Các nhà bác học tiếp tục lên đường. Ngôi sao họ đã thấy bên Đông phương lại mọc lên sáng rực, hướng dẫn họ đến tận nơi Con Trẻ ở. Thấy lại ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. Vào đến nhà, thấy Con Trẻ và mẹ Ngài, các nhà bác học liền quỳ xuống thờ lạy Ngài, rồi dâng hiến vàng, trầm hương và nhựa thơm." Sử gia Lu-ca cũng nói đến sự xuất hiện lạ lùng của thiên sứ đến báo tin Chúa giáng sinh cho mấy anh chăn chiên đang ở ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên. "Thình lình, một thiên sứ của Chúa hiện ra, hào quang Chúa chói lòa khắp nơi. Họ vô cùng kinh hãi, nhưng thiên sứ liền trấn an: "Đừng sợ, tôi đến báo cho các anh một tin mừng. Tin nầy sẽ đem lại niềm vui lớn cho mọi người. Đêm nay, Chúa Cứu Thế, Đấng Cứu Tinh của nhân loại đã ra đời tại Bê-lêm. Các anh sẽ nhận ra Ngài khi gặp một em bé quấn khăn nằm trong máng cỏ." Thình lình, vô số thiên sứ hiện ra, hợp với thiên sứ ấy ca ngợi Đức Chúa Trời: Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới đất cho người thành tâm."

Có một số giáo chủ đã ra đời nhiều năm trước khi Chúa giáng sinh. Nhưng chỉ có sự giáng sinh của Chúa Giê-xu mới chia đôi dòng lịch sử nhân loại, phân định mốc thời gian trước Chúa và sau Chúa. Khi một người ra đời thì năm sinh của người đó đánh dấu mức khởi đầu của người đó trên đời. Trường hợp Chúa Giê-xu lại khác hẳn. Ngài là Đấng duy nhất thực hữu trước khi sinh ra đời. Thánh Kinh ghi lại lời cầu nguyện của Chúa Giê-xu: "Cha đã trao cho Con uy quyền trên cả nhân loại, để Con ban sự sống vĩnh cửu cho những người Cha đã giao thác...Thưa Cha, giờ đây xin Cha làm sáng tỏ vinh quang Con trước mặt Cha, là vinh quang chung của Cha và Con trước khi sáng tạo trời đất." Những nhà lãnh đạo người Do Thái nỗi giận và bực tức trước những lời tuyên bố của Chúa Giê-xu. Họ chất vấn Ngài: "Liệu Thầy lớn hơn Áp-ra-ham, tổ phụ chúng tôi là người đã chết sao?" Áp-ra-ham sống cách đó 2,000 năm. Chúa Giê-xu trả lời: "Nếu tôi tự đề cao thì chẳng vẻ vang gì, nhưng Cha tôi ban vinh dự cho tôi. Anh em gọi Cha tôi là Thượng Đế. Anh em không biết Ngài nhưng tôi biết rõ... áp-ra-ham, tổ phụ anh em rất hân hoan khi biết được thời kỳ tôi xuống đời. Người biết trước nên vô cùng mừng rỡ." Người Do Thái mỉa mai: "Thầy chưa đầy năm mươi tuổi mà đã thấy áp-ra-ham!" Chúa Giê-xu đáp: "Tôi nói quả quyết, trước khi áp-ra-ham ra đời đã có tôi." Chính vì lời tuyên bố thẳng thắn rõ ràng nầy mà người Do Thái đã lượm đá định ném Chúa Giê-xu. Sứ đồ Giăng xác tín: "Ban đầu có Chúa Cứu Thế. Chúa Cứu Thế ở với Thượng Đế từ nguyên thủy vì Ngài là Đức Chúa Trời ngôi hai." Giăng Báp-tít là người sinh ra trước Chúa Giê-xu sáu tháng. ông được vinh dự là người dọn đường cho Chúa Cứu Thế. Khi nói với dân chúng Do Thái, ông Giăng lớn tiếng giới thiệu: "Đây là Người tôi thường nói tới. Ngài đến sau tôi nhưng cao cả hơn tôi vì Ngài có trước tôi." Sứ đồ Phao-lô viết thư cho các tín hữu ở Cô-lô-se: "Chúa Cứu Thế là hiện thân của Đức Chúa Trời vô hình, Ngài có trước mọi vật trong vũ trụ...Chúa Cứu Thế có trước vạn vật. Chúa Cứu Thế có tất cả bản chất thần linh của Đức Chúa Trời."

Chúa Giê-xu đã sống một đời vô tội. Ngài đã từng thách thức với người Do Thái: "Trong các ngươi, có ai bắt ta thú tội được chăng?" Sứ đồ Phi-e-rơ là một môn đệ thân tín của Chúa Giê-xu đã xác nhận: "Ngài chưa hề phạm tội, trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá." Ngay cả kẻ thù của Ngài là Tổng đốc Phi-lát, người La-mã, cũng xác nhận: "Ta không tìm thấy người có tội lỗi chi."

Chúa Giê-xu đã làm những phép lạ mà chỉ có Đức Chúa Trời mới làm được mà thôi. Ngài đã khiến người phung được sạch, người điếc được nghe, người mù được sáng, người điên được tỉnh táo, người chết được sống lại. Ngài hóa 5 cái bánh và 2 con cá để nuôi năm ngàn người ăn cùng một lúc. Ngài hóa nước thành rượu để đem niềm vui trọn vẹn đến cho một đám cưới. Ngài khiến biển yên sóng lặng cho những môn đồ đang run sợ trước cơn bão biển. Ngài có quyền trên bịnh tật, trên ma quỉ, trên thiên nhiên, trên sự sống và sự chết.

Cuộc đời Chúa Giê-xu đã làm ứng nghiệm hoàn toàn những lời tiên tri trong Kinh Thánh Cựu Ước từ lời tiên tri nói về việc Ngài sinh bởi một trinh nữ, đến nơi sinh trưởng của Ngài; từ những việc làm nhân đức của Ngài đến những lời báo trước về cái chết của Ngài trên thập tự giá; từ lời tiên tri nói cách chi tiết về sự hy sinh của Ngài đến lời nói trước về sự sống lại của Ngài. Tất cả đều ứng nghiệm cách lạ lùng trong cuộc đời của Chúa Giê-xu.

Khi Chúa Giê-xu chịu chết, trời đất đều tối tăm, bức màn to lớn trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem tự nhiên xé ra làm hai từ trên chí dưới như để báo hiệu con đường đến trực tiếp với Đức Chúa Trời đã khai thông. Chúa Giê-xu được các môn đồ chôn cất cẩn thận trong thạch mộ. Ngài đã trả xong món nợ tội lỗi cho nhân loại. Ngày thứ nhất trong tuần lễ (nay là ngày Chúa nhật), sau ba ngày nằm trong phần mộ, Chúa Giê-xu đã sống lại cách vẻ vang. Ngài hiện ra với các môn đồ, dạy dỗ họ về Nước Trời và ban truyền mệnh lệnh cho họ ra đi loan báo tin mừng Cứu rỗi cho nhân loại. Sau bốn mươi ngày Ngài thăng thiên trở về trời là nơi Ngài đã ở trước khi giáng thế làm người. Loài người không thể thành Đức Chúa Trời nhưng Đức Chúa Trời đã dùng quyền năng vô hạn của Ngài để trở thành người, sống giữa loài người để Cứu rỗi loài người.

Chúa Giê-xu không thể xếp ngang hàng với các giáo chủ đời nầy. Ngài là Đức Chúa Trời thành Người. Chúng ta phải tỏ thái độ với Ngài như thái độ của loài người đối với Đức Chúa Trời. Chúng ta hoặc tin Ngài hoặc chối bỏ Ngài; không ai có thể đứng trung dung. Khi chịu chết, Chúa Giê-xu đã bị đóng đinh giữa hai tử tù. Một người tỏ thái độ tin Ngài và một người chối bỏ Ngài. Đây có thể nói là hai thái độ chung của loài người đối với Chúa, đó là người tin Chúa và người không tin Chúa. Chúa Giê-xu đã từng tiết lộ: "Khi Con Người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài. Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người khác ra như người chăn chia chiên với dê ra, để chiên ở bên hữu và dê ở bên tả. Bấy giờ Ngài sẽ phán cùng những người ở bên hữu rằng: Hỡi các ngươi được Cha ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng đã sắm sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất... Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những kẻ ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó."

Trên đây là những hình ảnh và những lời nghiêm trọng, không ai có thể coi thường. Bạn đang phân vân lựa chọn con đường Cứu rỗi chăng? Hãy nghe lời dạy của Chúa Giê-xu: "Ta là đường đi, chân lý và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha." Nếu những lời tuyên bố của Chúa Giê-xu là đúng và thật là chân lý thì thái độ tốt nhất là bạn nên vâng phục Ngài. Đức Chúa Trời ban cho bạn có sự khôn ngoan để nhận định và quyền tự do để lựa chọn thái độ của mình. Chúa Giê-xu thực là Đức Chúa Trời thành người. Thái độ của bạn đối với Ngài ra sao?

Mục sư Nguyễn Văn Huệ

Tiết mục: